Nguyễn Ngọc Tuấn: Dạo bước giữa hai dòng thời gian

Những năm học về văn học và biên-phiên dịch tại Pháp cũng như nhiều năm làm việc trong lĩnh vực hợp tác trao đổi văn hóa Pháp-Việt đã mang đến cho Nguyễn Ngọc Tuấn niềm đam mê nghệ thuật. Sau hơn 10 năm miệt mài tự học và khám phá hội họa, anh đã tổ chức triển lãm cá nhân đầu tiên mang tên “1×2”, đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tạo của mình. Các tác phẩm gần đây của anh là sự tái kết nối với nghệ thuật thủy mặc và thư pháp Á Đông, tạo nên điểm nhấn mới mẻ và độc đáo qua cách biểu đạt trừu tượng và bán trừu tượng, sử dụng gouache, mực trên giấy và đa dạng chất liệu.

Thói quen tự học 

Tranh của hoạ sỹ Nguyễn Ngọc Tuấn gây ấn tượng với tôi bởi gam màu đơn sắc, các nét vẽ vừa mềm mại vừa cứng cáp, các ý niệm vừa ẩn vừa hiện, hơn cả là việc tôn lên vẻ đẹp của sự lụi tàn. Tôi ngỏ ý đến thăm nơi sáng tác của anh, sau đó được anh hẹn đến một ngôi nhà khang trang có khoảnh sân ngập nắng, bên trong treo đầy những bức tranh do anh sáng tác. Được biết, hầu hết tranh anh vẽ thường dành tặng bạn bè thân thiết. Có một gian nhỏ ở góc phòng khách đang bày bức tranh vẽ dở dang và một ít hoạ cụ. Sàn lót tấm vải để tránh vây bẩn màu. Tôi có chút bất ngờ khi anh bảo anh không có góc sáng tác cố định. Cứ mỗi lần vẽ tranh, anh sẽ bày mọi thứ ra một góc nào đó, khi vẽ xong sẽ thu dọn, trả lại ngôi nhà dáng vẻ bình thường của nó. 

Nhắc về cơ duyên đến với hội hoạ, hoạ sỹ Ngọc Tuấn kể rằng sự tìm tòi của anh có thể ảnh hưởng từ hai người: người đầu tiên là ông ngoại, dù anh chưa bao giờ gặp nhưng nghe kể rằng ông tự học nhiều thứ. Người thứ hai là bố anh, một người học giỏi xuất sắc. Bố anh thường nói về việc tự tìm hiểu, và anh theo gương đó. Khi học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, anh đã chọn đề tài tốt nghiệp là sự giao thoa giữa hội họa, thơ và nhạc ở thế kỷ 19. Dù lúc đó chỉ mới đọc lý thuyết và chưa thực hành, anh vẫn phải tìm hiểu về hội họa. Sau khi tốt nghiệp, anh làm việc tại Tổng lãnh sự quán Pháp, phòng trao đổi văn hóa, tham gia nhiều hoạt động trao đổi văn hóa và nghệ thuật, làm trợ lý cho tùy viên văn hóa, dịch thuật và tổ chức triển lãm. Các hoạt động này khơi dậy đam mê hội họa trong anh từ lúc nào chẳng biết. Khoảng 12-13 năm trước, anh quyết định tự học vẽ. Anh mua nhiều sách và học từ các nền tảng online. Bức tranh đầu tiên anh vẽ là một bức tranh nhỏ về phố cổ Hội An. Hồi đó, anh tự học vẽ và bị ảnh hưởng bởi một số tác giả như Bùi Xuân Phái và Monet. Từ bức tranh đầu tiên đến bây giờ, anh thấy sự khác biệt lớn nhất là sự mạnh dạn trong từng nét vẽ, cũng như trong việc sử dụng nhiều chất liệu hơn, từ sơn dầu, acrylic đến mực, vẽ trên toan, giấy và sử dụng mix media trong triển lãm vừa rồi. 

Hơn 10 năm nay, anh duy trì thói quen vẽ mỗi ngày, trừ những lúc bận rộn. Buổi tối hoặc cuối tuần, anh luôn sắp xếp thời gian để vẽ. Anh thường dựa vào kho ý tưởng đã có để sáng tác nhờ có thói quen ghi lại những ý tưởng hay hoặc những hình ảnh thú vị trong lúc đọc sách, báo, lướt mạng, đi du lịch. Anh chia sẻ về thói quen xây dựng kho tư liệu: “Trong thế giới xung quanh, có nhiều điều để chú ý, đặc biệt là những mảng rêu. Chúng giống như những bức họa tự nhiên, tương tự như kỹ thuật vẽ sơn dầu với nhiều lớp. Thời gian và thiên nhiên đã vẽ nhiều lớp lên những bức tường ở Hội An, Huế và xung quanh nơi tôi sinh sống. Tôi thường chú ý đến những điều này và cảm thấy chúng rất đẹp. Khi đi qua, tôi thường chụp lại và sau đó dùng làm tư liệu để vẽ những bức tranh trừu tượng”. 

Cảm hứng từ nghệ thuật phương Đông

Trước đây, người hoạ sỹ nghĩ rằng nghệ thuật Á Đông là cổ hủ và nhàm chán. Trong một lần tình cờ xem một bộ phim về thư pháp gia Trung Quốc và tìm hiểu sâu hơn về hội họa Á Đông, thủy mặc và thư pháp, anh bị cuốn vào một nguồn cảm hứng mạnh mẽ. Được biết, vào thời Đường, Trương Húc và Hoài Tố nổi tiếng với thảo thư. Mỗi bức thảo thư giống như một bức họa trừu tượng. Theo anh, câu “văn là người” thể hiện rất rõ qua thư pháp, cho thấy con người đó như thế nào, thanh cao hay mạnh mẽ. 

Điều này giúp anh nhận ra rằng tư tưởng, hội họa và thư pháp phương Đông có nhiều điều hay ho và thâm sâu mà anh đã bỏ qua do những định kiến nhất định và thiếu hiểu biết; rằng vẻ đẹp thực sự của hội họa phương Đông, thứ nhất, nằm ở tư tưởng. Tại sao lại là thủy mặc, tại sao lại là trắng đen, tại sao lại có những khoảng trống? Những yếu tố này đều chứa đựng tư tưởng Đạo Lão. Điểm đặc biệt thứ hai của hội họa phương Đông so với phương Tây là cách dùng màu. Màu chủ yếu là trắng đen, một phần do tư tưởng phương Đông thiên về sự tối giản. Điểm thứ ba là sự kết hợp giữa thơ, thư pháp và hội họa: người họa sĩ làm thơ và viết thư pháp trên tranh, kết hợp ba hình thức nghệ thuật trong cùng một tác phẩm. Có một câu của hoạ sỹ Bùi Xuân Phái anh rất thích, rằng: “Cứ phải đọc, phải xem, tìm hiểu nhiều các nghệ sỹ lớn. Họ giúp mình khiêm tốn và tiến lên”. Vậy là từ nguồn cảm hứng này, anh quyết định sẽ mượn một số chất liệu, phương pháp của người xưa để tạo ra những tác phẩm đậm chất phương Đông theo hình thái mới.

“Trong triển lãm vừa qua, có một bộ tranh tôi vẽ người trong các tư thế khác nhau bằng cọ và mực tạo thành một tổng thể trừu tượng. Còn có một bộ tranh mang tên “Vàng”, thực ra là vàng mã. Ý tưởng này xuất phát từ việc đốt vàng mã ở Việt Nam, khi nhiều gia đình mua giấy vàng mã để đốt mỗi lần ra mộ. Gia đình tôi cũng đốt vàng mã, và mỗi lần đốt, tôi thường nhìn vào lửa và giấy vàng mã, thấy chúng đẹp như một bức tranh. Tôi chụp và quay lại những hình ảnh đó. Khi thử nghiệm với ý tưởng này, tôi dùng giấy của người dân tộc, xé và dán trước, sau đó kết hợp với vàng mã, rắc lên và vẽ. Một số tờ giấy tiền vàng mã tôi cũng đốt, xé và dán lên tranh. Hiện tại, tôi đang thử nghiệm một bức tranh sử dụng những nếp gấp tự nhiên của vàng mã tạo thành các mảng, khối” – Hoạ sỹ Nguyễn Ngọc Tuấn chia sẻ. 

Trong góc nhà anh có một bức tranh vẽ vũ khúc sen tàn uyển chuyển và ngẫu hứng trên mặt hồ từ những nét thảo thư trừu tượng. Chúng tôi cũng được dịp xem hoạ sỹ vẽ một bức tranh khổ lớn khác cũng theo lối vẽ này. Khi vẽ, anh có thói quen bật một danh sách bài nhạc yêu thích, và cứ phóng bút tuỳ hứng theo cảm xúc chứ không đặt suy nghĩ vào từng nét vẽ. Từng bóng sen tàn in trên mặt hồ cứ lần lượt hiện ra, trông mờ ảo khiến chúng tôi tưởng như đang thực sự dạo bộ giữa làn sương sớm. Qua một bức tranh khác của anh, chúng tôi tiếp tục dạo bước trên một cánh đồng sau vụ gặt nơi còn sót lại tàn tro của những cọng rơm vàng. Một bức tranh khác vẽ bom nổ, núi lửa tuôn trào, nhìn ở góc độ nào đó như hình dạng một đóa hoa đang nở, được thể hiện bằng hai sắc màu đen trắng của mực và giấy, gợi cảm giác vừa lạ lẫm vừa thân quen về những ý niệm xoay quanh sự luân hồi trong triết lý phương Đông. 

Vẻ đẹp mong manh, phù du, sự lụi tàn không phải chủ đề mới, nhưng hoạ sỹ Ngọc Tuấn có cách cảm nhận và chuyển thể cảm xúc đó theo cách riêng. Từ một lần tình cờ xem bức ảnh của nhiếp ảnh gia René Burri chụp một hồ sen tàn tại Hồ Côn Minh, anh thấy sen trông như những nét chữ nghiêng ngả của một bức thảo thư nên cũng bắt đầu thử nghiệm lưu giữ “nét chữ” của chính mình trong các bức tranh vẽ sen tàn. Anh mê mẩn đến nỗi cứ đi đâu gặp sen tàn sẽ phải ngắm chúng thật lâu, như thể đang đọc những lời đẹp đẽ trên bức thư pháp tuyệt đẹp của thiên nhiên. Có lần, anh bắt người bạn phải dừng xe ngay khi đi qua một hồ sen đang độ cuối mùa, say chúng đến nỗi về nhà muộn và… bị vợ mắng.

“So với trước đây, khi vẽ nhiều tranh với chất liệu acrylic và sơn dầu, anh có nhận thấy sự khác biệt trong dòng chảy cảm xúc của mình khi vẽ bằng mực không?” – Tôi hỏi. Anh đáp lời: “Thật ra, vẽ trên mực và thể hiện trắng đen đã gắn bó với tôi từ lâu. Tôi tìm hiểu về nhiếp ảnh và thích ảnh trắng đen, nên khi thể hiện bằng mực, tôi cảm thấy có sự kết nối đặc biệt. Có lẽ do ADN của người Á Đông”. 

Đối với hoạ sỹ Nguyễn Ngọc Tuấn, gam màu trắng đen và vẻ đẹp của sự lụi tàn còn gắn với một kỷ niệm khó quên. Ngày xưa, nhà anh ở khu tập thể nhà máy Diêm Thống Nhất bên bờ sông Đuống. Mỗi dãy nhà gồm một bên là nhà ở và một bên là gian bếp nhỏ, cách nhau bằng một lối đi và một cái hè. Trẻ con các nhà thường chơi với nhau trên cái hè nhỏ ấy. Bếp ngày xưa đun than và củi, bức tường chỗ đặt bếp và bên ngoài nồi thường đen màu nhọ nồi. Một lần nọ, khi anh còn là cậu bé chưa đầy 10 tuổi, trong lúc đun nước, bếp bị cháy nên anh chạy vội vào nhà đóng kín cửa vì sợ bị đánh đòn, suýt nữa thì chết cháy. May mắn sao có người hàng xóm thấy nhiều khói bốc ra từ bếp, nên mở cửa và dập lửa kịp thời. Bức tường và gian bếp vốn đã phủ một màu xám đen bỗng được nhuộm thành màu đen kít. Mỗi lần nhìn thấy gam màu trắng đen, anh lại nhớ về tuổi thơ và căn bếp làng quê miền Bắc ngày ấy. Anh bị ám ảnh bởi những thứ gì qua đi, đôi khi có chút cảm giác tiếc nuối những cảm xúc thuần khiết của ngày xưa.

Có lẽ, trong lúc đi tìm những ý tưởng mới từ những thứ có sẵn, người hoạ sỹ lại bắt gặp những ký ức vùi sâu trong tiềm thức của chính mình, và cứ như thế, liên tục di chuyển giữa hai dòng thời gian cũ và mới. 

Tôi từng đặt câu hỏi giữa hai con đường: thứ nhất, tập trung toàn bộ chất xám và nỗ lực vào một niềm đam mê duy nhất và thứ hai, chọn làm hai công việc song song tính chất khác nhau nhưng có thể bổ trợ cho nhau, con đường nào sẽ thuận lợi hơn và cho ta nhiều quả ngọt trên hành trình hơn. Đối với Ngọc Tuấn, câu trả lời có lẽ nằm ở lựa chọn thứ hai. Đối với anh, việc theo đuổi nghệ thuật vẫn là… nghề tay trái, nhưng điều này không chia con người anh làm hai nửa mà trái lại, giúp tạo nên một tổng thể con người ôn tồn, hài hoà, dạo chơi trong nghệ thuật một cách thong dong. 

Bài đăng trên Tạp chí Đẹp, số 292
Ảnh: Ngọc Ánh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *